Diễn đàn lớp mình

Diễn đàn lớp mình

Dành cho những ai quan tâm
 
Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 Thì bết đâu được

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Nguyên Soái
Nguyên Soái
avatar

Tổng số bài gửi : 29
Join date : 12/01/2010
Age : 37

Bài gửiTiêu đề: Thì bết đâu được   Thu Jun 17, 2010 8:23 am

Không biết cái Forum này có được mọi người quan tâm không đây. Hầy, thôi thì cứ làm ra đây, không ai quan tâm thì mình làm chơi cho vui vậy. pirat Twisted Evil
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://ch17vhvndhv.forumotion.com
Admin
Nguyên Soái
Nguyên Soái
avatar

Tổng số bài gửi : 29
Join date : 12/01/2010
Age : 37

Bài gửiTiêu đề: Re: Thì bết đâu được   Thu Jun 17, 2010 8:26 am

tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1945 đến nay
Phòng Quản lý Khoa học và Đào tạo
Viện Văn học



Cơ sở đào tạo Viện Văn học tổ chức bảo vệ luận án Tiến sỹ cấp Nhà nước cho:



Nghiên cứu sinh: NGUYỄN THỊ TUYẾT MINH

Đề tài: Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1945 đến nay

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 62 22 34 01

Thời gian: 8h 30', Thứ Ba, ngày 27 tháng 10 năm 2009

Địa điểm: Hội trường (gác 2) Viện văn học - 20 Lý Thái Tổ - Hà Nội



Kính mời các đồng chí quan tâm đến dự.





Tóm tắt đề tài:



... Bản chất sự vận động của thể tài tiểu thuyết lịch sử chính là sự vận động của tư duy tự sự lịch sử. Luận án tập trung khảo sát sự vận động của tiểu thuyết lịch sử từ 1945 đến nay trên ba phương diện chính: cảm thức lịch sử, các khuynh hướng tái tạo lịch sử, các loại hình nhân vật lịch sử.

Chiêm bái và ngưỡng vọng; phân tích và giả định là hai mạch cảm thức chủ đạo của tiểu thuyết lịch sử. Đặt trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, mạch cảm thức thứ nhất đã mang lại cho tiểu thuyết lịch sử một nội dung yêu nước thiết thực. Nó góp phần quan trọng trong việc tuyên truyền, giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và ý chí đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Ở mạch cảm thức thứ hai- chủ yếu nổi trội từ sau 1986, lịch sử không chỉ được tái hiện trên bề mặt các sự kiện mà còn được soi chiếu ở nhiều góc nhìn, ở cả “bề sau, bề sâu, bề xa”. Những vùng sự thật ở phía “khuất tối” của lịch sử được trình bày, những bí ẩn và xung đột của lịch sử được phân tích, để rồi lịch sử được lắng kết ở chiều sâu số phận con người. Lúc này, tiểu thuyết lịch sử trở thành ấn tượng và suy tư cá nhân, cá nhân trở thành trung tâm của tự sự.

Mối quan hệ giữa lịch sử và tiểu thuyết là vô cùng gắn bó trong tiểu thuyết lịch sử. Cách xử lí mối quan hệ này tạo nên sự đa dạng của các “mô thức” tiểu thuyết lịch sử. Có thể nhận thấy “lịch sử hoá” tiểu thuyết và “tiểu thuyết hoá” lịch sử là hai khuynh hướng tái tạo nghệ thuật chủ yếu của tiểu thuyết lịch sử sau 1945. Ở khuynh hướng thứ nhất, tiểu thuyết lịch sử thường tôn trọng sự chính xác của tư liệu lịch sử, bao quát hiện thực đời sống ở diện rộng với chiều kích vĩ mô của tư duy “đại tự sự”. Thực chất, tiểu thuyết lịch sử trong mô hình này là sự cụ thể hoá, sinh động hoá những chân lí lịch sử. Công việc của nhà tiểu thuyết trong trường hợp này xét đến cùng là dùng khả năng tưởng tượng của mình để lấp đầy chỗ trống giữa những dòng sử biên niên khô khan để càng làm sống động và giàu thuyết phục những chân lí đã hoàn kết. Lúc này, tiểu thuyết lịch sử đậm chất truyện kể mà nhạt chất tiểu thuyết. Ở khuynh hướng thứ hai, những tư liệu chính xác của lịch sử được chuyển hoá thành tiểu thuyết, thành sản phẩm hư cấu của nghệ sĩ. Chỉ với một vài điểm níu mỏng manh vào lịch sử, nhà tiểu thuyết có thể tưởng tượng, sáng tạo một thế giới nghệ thuật riêng. Nhà tiểu thuyết vừa làm sống lại lịch sử, vừa tạo cho nó một sức sống mới để lịch sử có thể song hành cùng hiện tại. Đây là bước cách tân trong mối quan hệ giữa lịch sử và tiểu thuyết.

Trong thế giới nhân vật đa dạng của tiểu thuyết lịch sử sau 1945, với một cái nhìn khái quát có thể nhận thấy hai loại hình nhân vật nổi bật: nhân vật mang khát vọng lịch sử và nhân vật số phận trong dòng lịch sử. Loại hình nhân vật thứ nhất là những con người đại diện cho tầm vóc và nguyện vọng của dân tộc ở mỗi thời đoạn. Những cá nhân này giàu bản lĩnh, tài trí phi thường, có khả năng tác động tới lịch sử, làm xoay chuyển lịch sử. Loại hình nhân vật thứ hai là một cách hình tượng hoá tính bi kịch của lịch sử. Xây dựng các loại hình nhân vật này, tiểu thuyết lịch sử sau 1945 đã khám phá “hằng số lịch sử”, đặt lịch sử vào tầm nhìn triết học và văn hoá. Đồng thời, nó có khả năng mang lại cho lịch sử chất nhân văn sâu đậm.

4. Tiến trình của tiểu thuyết lịch sử và tư duy tự sự lịch sử in dấu cụ thể vào sự biến đổi các phương thức nghệ thuật. Luận án tập trung khảo sát ba phương diện chính: nghệ thuật trần thuật, nghệ thuật kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu.

Trần thuật từ một điểm nhìn: lịch sử như đã hoàn tất và trần thuật từ nhiều điểm nhìn: lịch sử như đang vận động là hai xu hướng trần thuật chủ yếu của tiểu thuyết lịch sử sau1945. Ở xu hướng trần thuật thứ nhất, tiểu thuyết lịch sử thuyết phục người đọc bằng tính xác thực của sự kiện lịch sử, đem lại cho tác phẩm màu sắc khách quan tối đa. Xu hướng trần thuật thứ hai tạo ra sự tương tác, phức hợp, khiến tiểu thuyết lịch sử trở nên đa thanh, phức điệu. Theo đó, bản chất thể loại càng thể hiện khả năng “giãn nở” uyển chuyển và có dịp phát huy tối đa công năng nghệ thuật. Đây là cách tân nghệ thuật đáng ghi nhận của tiểu thuyết lịch sử sau 1945.

Lịch sử được tái hiện theo trật tự thời gian tuyến tính; theo tâm lí nhân vật; theo kiểu lắp ghép, đồng hiện là ba mô hình kết cấu chủ yếu của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1945.

Lịch sử được tái hiện theo trật tự thời gian tuyến tính là mô hình kết cấu truyền thống được tiểu thuyết lịch sử sau 1945 tiếp tục kế thừa và phát triển. Lịch sử được tái hiện theo tâm lí nhân vật là nỗ lực sáng tạo của tiểu thuyết lịch sử sau 1945 và càng ngày càng phong phú, thành thục. Kiểu kết cấu này thể hiện rõ ưu thế khi nhà văn đi sâu tìm hiểu những suy tư trong tâm hồn nhân vật khiến nhân vật lịch sử hiện lên thực sự là những nhân vật tiểu thuyết mà không chỉ giản đơn như những danh nhân của lịch sử. Tái hiện lịch sử theo kiểu lắp ghép, đồng hiện là cách tân nghệ thuật nổi bật của tiểu thuyết lịch sử sau 1986. Kiểu kết cấu này làm cho cốt truyện trở nên co giãn linh hoạt và tiểu thuyết lịch sử trở thành một bản giao hưởng nhiều bè, nhiều khúc thức. Đồng thời, tác phẩm trở thành một cấu trúc mở, giàu tính đối thoại và đạt tới hiệu quả thẩm mĩ phong phú, bất ngờ.

Ngôn ngữ của tiểu thuyết lịch sử sau 1945 có sự tương tác linh hoạt giữa lớp ngôn ngữ lịch sử trang trọng, cổ kính và lớp ngôn ngữ tiểu thuyết nhiều màu sắc, giàu cá tính. Với đặc điểm này, tiểu thuyết lịch sử sau 1945 đã hoà nhập tài tình tiếng nói của quá khứ xa xưa với tiếng nói mới mẻ, táo bạo của con người hôm nay. Đây chính là phương diện thành công quan trọng khiến tiểu thuyết lịch sử ngày càng có sức hấp dẫn độc giả.

Dễ dàng nhận ra hai loại hình giọng điệu chủ yếu của tiểu thuyết lịch sử sau 1945 là thành kính, ngợi ca và đối thoại, phân tích, “giải thiêng” lịch sử. Ở loại hình giọng điệu thứ nhất, tiểu thuyết lịch sử có khả năng tái hiện một cách sinh động chủ nghĩa anh hùng Việt Nam để qua đó, khơi dậy ở con người hiện tại niềm tự hào trước quá khứ tốt đẹp của cha ông. Ở đây, cái nhìn của nhà văn hoàn toàn trùng khớp với cộng đồng khi đánh giá về những chân lí lịch sử. Ở loại hình giọng điệu thứ thứ hai, tiểu thuyết lịch sử giống như một cấu trúc mở, có khả năng nhận thức sâu hơn, toàn diện hơn các giá trị lịch sử. Câu chuyện lịch sử dường như được kể bằng kinh nghiệm riêng của nhà văn. Rất nhiều sự kiện lịch sử quen thuộc được hiện lên trước cái nhìn mới mẻ của nhà văn khiến người đọc bất ngờ, thích thú.

Tiểu thuyết lịch sử luôn song hành với dòng lịch sử và với hiện tại. Những vận động và biến đổi của nó, xét đến cùng, đều phản ánh những biến thiên xã hội, sự vận động của nhận thức con người cùng sự mở rộng của tư duy thể loại. Tiểu thuyết lịch sử hiện nay đang phản ánh khá rõ điều này. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều cuốn tiểu thuyết lịch sử khi vừa ra đời đều được dư luận chú ý như những dấu hiệu cách tân của tiểu thuyết lịch sử, và rộng hơn, của văn xuôi tự sự đương đại. Thế kỉ XXI có những điều kiện khá lí tưởng về môi trường văn hoá để khuyến khích những đổi mới, sáng tạo và hứa hẹn một sự định vị vững chắc của thể tài trong đời sống văn học đương đại Việt Nam.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://ch17vhvndhv.forumotion.com
Admin
Nguyên Soái
Nguyên Soái
avatar

Tổng số bài gửi : 29
Join date : 12/01/2010
Age : 37

Bài gửiTiêu đề: Re: Thì bết đâu được   Thu Jun 17, 2010 8:27 am

Post Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng tám 1945

Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng tám 1945

I. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA VHVN TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
1.Văn học đổi mới theo hướng hiện đại hoá.
* Tiền đề:
- Pháp xâm lược, khai thác thuộc địa...cho nên cơ cấu xã hội VN có những biến đổi sâu sắc.
- Văn hoá VN tiếp xúc với văn hoá PT (Pháp).
- Vai trò của ĐCSVN đối với sự phát triển nền văn hoá dân tộc: làm cho nền văn hoá phát triển theo chiều hướng tiến bộ và cách mạng.
- Báo chí và nghề xuất bản phát triển mạnh; chữ quốc ngữ dần dần thay thế chữ Hán, chữ Nôm; phong trào dịch thuật phát triển, lớp trí thức Tây học thay thế lớp trí thức Nho học, đóng vai trò trung tâm trong đời sống văn hoá thời kì này.
* Khái niệm hiện đại hoá: là quá trình làm cho văn học VN thoát khỏi hệ thống thi pháp văn học TĐ và đổi mới theo hình thức văn học PT, có thể hội nhập với nền vaă học hiện đại thế giới.
* Qúa trình hiện đại hoá:
a. giai đoạn 1: (1900 - 1920):
- Chữ quốc ngữ phát triển
- Đội ngũ sáng tác là các nhà văn Hán học cấp tiến đảm nhiệm trước nhu cầu xã hội .
- Sáng tác: văn xuôi, báo chí dịch thuật.
-> Các tác phẩm văn học giai đoạn này còn mang dấu ấn cuả thời đại cũ và mới( có cả Phương Đông lẫn Phương tây)
b, Giai đoạn 2:(1920 - 1930):
- Sáng tác: Tầng lớp trí thức Tây học đảm nhiệm.
-Thể loại: Truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ...với đường lối tư tưởng cách tân theo phương Tây. Nổi bật nhất là thơ ( đề cao cái Tôi - cái lemoi). Ngoài ra còn có các thể loại khác như: bút ký kịch thơ.
-> Đây là giai đoạn văn học có nhiều chuyển biến tích cực báo hiệu một cuộc cách mạng mới trong văn học.
c. Giai đoạn 3: (1930 - 1945):
- Hoàn tất quá trình hiện đại hoá với nhiều cuộc cách tân sâu sắc trên mọi thể loại, đặc biệt là tiểu thuyết, truyện ngắn và thơ.
- Là giai đoạn bùng nổ các trào lưu văn học
2. Văn học hình thành hai bộ phận và phân hoá thành nhiều xu hướng vừa đấu tranh với nhau vừa bổ sung cho nhau để cùng phát triển.
a. Bộ phận công khai hợp pháp:
* VH lãng mạn:
- là tiếng nói của cá nhân tràn đầy cảm xúc, đồng thời phát huy cao độ trí tưởng tượng để diễn tả những khát vọng, ước mơ.
- Đề tài: tình yêu, thiên nhiên, quá khứ...
- Góp phần quan trọng vào việc thức tỉnh ý thức cá nhân, đấu tranh chống luân lý, lễ giáo PK...làm cho tâm hồn người đọc thêm tinh tế và phong phú...
- Tiêu biểu: Thơ mới, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, truyện ngắn trữ tình của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếch, tuỳ bút và truyện ngắn của Nguyễn Tuân.
- H/c: ít gắn với đời sống xã hội chính trị...
* VH hiện thực:
- ND: phơi bày thực trạng bất công, thối nát của xã hội đương thời, phản ánh tình cảnh khốn khổ của các tầng lớp nhân dân bị áp bức bóc lột với một thái độ cảm thông sâu sắc.
- Tiêu biểu: Nam Cao, NCH, Nguyên Hồng, Tô Hoài, VTP, NTT...
b. Bộ phận phát triển bất hợp pháp:
- Có thơ văn cách mạng bí mật, đặc biệt là thơ của các chí sĩ và các chiến sĩ cách mạng trong tù. Tiêu biểu: Tố Hữu, NAQ- HCM.
- Đánh thẳng vào bọn thống trị thực dân cùng bè lũ tay sai, nói lên khát vọng độc lập, đấu tranh để giải phóng dân tộc, thể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn và niềm tin không gì lay chuyển nổi vào tương lai tất thắng của cách mạng.
- Qúa trình hiện đại hoá gắn liền với quá trình cách mạng hoá văn học.
Hai bộ phận văn học này có sự tác động qua lại lẫn nhau; làm cho văn học phát triển không ngừng.
3. Văn học phát triển với một tốc độ hết sức nhanh chóng
- Từ năm 1900 - 1945, đặc biệt là từ 1930 - 1945, các bộ phận, các xu hướng văn học đều vận động phát triển với một tốc độ đặc biệt khẩn trương, mau lẹ: số lượng tác giả và tác phẩm, sự hình thành và đổi mới các thể loại văn học và độ kết tinh ở những tác giả, tác phẩm tiêu biểu.
- Nguyên nhân: do sự thúc bách của yêu cầu thời đại, sự vận động tự thân của nền văn học, sự thức tỉnh của cái tôi cá nhân, viết văn trở thành một nghề kiếm sống.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://ch17vhvndhv.forumotion.com
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Thì bết đâu được   

Về Đầu Trang Go down
 
Thì bết đâu được
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn đàn lớp mình :: Your first category :: Lớp Cao Học 17 VHVN-
Chuyển đến